Xoa bóp chữa bệnh gan

Xoa bóp chữa bệnh gan
Xoa bóp chữa bệnh gan (Hình 1)

Phương pháp xoa bóp I chữa bệnh gan

  • Ngón tay vô danh liên quan chặt chẽ với gan và túi mật. Nếu sự tuần hoàn máu ở 2 bộ phận này kém thì ngón tay sẽ nhỏ đi, cương cứng và huyết sắc sẽ xấu đi. Lúc này bấm vào huyệt Quan Xung phía dưói móng tay của ngón vô danh thì sẽ có hiệu quả trị liệu tốt. Khi bấm nếu thấy đau chứng tỏ gan và túi mật đang suy nhược cần phải tiến hành xoa bóp nhiều hơn.
  • Phương pháp bấm huyện Quan Xung là dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ xoa day huyệt Quan Xung và đưòng vân ngang trên khớp ngón tay vô danh. Khi bấm không thấy đau nữa chứng tỏ cơ năng của gan và túi mật đã bình phục.
  • Xoa bóp hoặc lắc ngón tay vô danh đều có tác dụng tốt. Xem (hình 1)

Phương pháp xoa bóp II chữa bệnh gan

  • Xoa bóp chữa bệnh gan
    Xoa bóp chữa bệnh gan (Hình 2)

    Ngón tay giữa liên quan rất chặt chẽ với cơ năng của gan. Nếu da của ngón tay giữa và ngón vô danh dầy lên thì phải xem xét lại tình trạng của gan. Để khôi phục cơ năng cho gan thì tốt nhất kích thích lên khu Kiện Lý Tam Châm nằm phía dưới tâm bàn tay, đồng thời nên thường xuyên xoa bóp khu này.

  • Móng tay quặp lại cắm vào thịt là phản ứng của trạng thái gan bị suy thoái. Phương pháp phục hồi cơ năng gan hữu hiệu nhất là kích thích huyệt Can.
  • Huyệt Can nằm ở mặt trong chính giữa vân ngang thứ hai của ngón tay vô danh. Hằng ngày, theo 1 giờ nhất định tiến hành bấm huyệt Can sẽ phục hồi cơ năng cho Gan và làm cho móng tay trỏ lại trạng thái tự nhiên, (hình 2)

Chuẩn đoán và điều trị bệnh viêm gan

Dấu hiệu bệnh viêm gan
Dấu hiệu bệnh viêm gan

Chuẩn đoán viêm gan

Khám thực thể

Bác sĩ sẽ kiểm tra thể chất, bác sĩ ấn nhẹ nhàng trên bụng để kiểm tra xem bạn có đau và đau như thế nào. Bác sĩ kiểm tra màu da và màu mắt.

Sinh thiết gan

Bác sĩ lấy mẫu mô từ gan và làm xét nghiệm. Thử nghiệm này xác định gan bị có bị viêm hoặc tổn thương gan không.

Siêu âm

Siêu âm bụng sử dụng sóng siêu âm để tạo ra một hình ảnh của các cơ quan trong ổ bụng. Xét nghiệm này sẽ tiết lộ dịch ở bụng, gan to, hoặc tổn thương gan.

Xét nghiệm máu

Máu   kiểm tra được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của kháng thể viêm gan virus và kháng nguyên trong máu sẽ cho biết hay xác nhận mà virus là nguyên nhân của viêm gan.

Điều trị  viêm gan theo quan điểm tây y.

Lựa chọn điều trị được xác định bởi những loại viêm gan bạn có và đây là viêm cấp tính hoặc mãn tính.

Viêm gan A

Viêm gan A thường không được điều trị. Bác sĩ  khuyến khích cho bệnh nhân nghỉ ngơi khi có các triệu chứng khó chịu. Nếu có triệu chứng nôn mửa hoặc tiêu chảy, bạn sẽ phải thay đổi chế độ ăn để tránh suy dinh dưỡng và bị mất nước. Viêm gan A có thể tiêm chủng giúp cơ thể sảnh xuất ra các kháng thể chông nhiễm trùng. Hầu hết trẻ em được tiêm chủng ở độ tuổi từ 12 và 18 tháng. Tiêm chủng cũng có sẵn cho người lớn.

Bệnh viêm gan B

Theo tây y, Viêm gan B không cần điều trị cụ thể. Viêm gan B được điều trị bằng thuốc kháng virus. Đây là hình thức điều trị có thể tốn kém bởi vì nó phải được theo dõi trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Điều trị viêm gan B mãn tính cũng yêu cầu đánh giá y khoa thường xuyên và giám sát để xác định nếu virus đang tiến triển. Các chuyên gia khuyến cáo tiêm phòng viêm gan B cho tất cả trẻ sơ sinh. Thuốc chủng ngừa cũng được khuyến khích dùng cho tất cả mọi người chăm sóc người bị bệnh để tránh lây nhiễm.

Viêm gan C

Các thuốc chống virus được sử dụng để điều trị cả hai hình thức cấp tính và mãn tính của viêm gan C. Những người bị bệnh viêm gan C mãn tính thường được điều trị bằng liệu pháp kết hợp thuốc chống virut. Họ cũng có thể cần phải thử nghiệm thêm để xác định các hình thức điều trị tốt nhất.Những người bị xơ gan hoặc bệnh gan do viêm gan C mãn tính có thể cần tiến hành phẫu thuật và ghép gan.

Viêm gan D

Viêm gan D được điều trị bằng một loại thuốc được gọi là alpha interferon. Theo các chuyên gia,  sau khi điều trị tỉ lệ 70- 90% bệnh sẽ tái phát trở lại.

Viêm gan E

Hiện tại không có phương pháp điều trị y tế cụ thể để điều trị bệnh viêm gan E. Bởi vì nhiễm trùng thường là cấp tính, thường sẽ điều trị theo các triệu chứng  mà bệnh nhân gặp phải. Những người bị bệnh thường được khuyên là nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước, có đủ chất dinh dưỡng, và tránh uống rượu.

Điều trị viêm gan theo quan điểm đông y:

Điều Trị Bằng YHCT

Theo YHCT, viêm gan vàng da thuộc phạm trù chứng Hoàng đản, phép trị chính là: Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết, giải độc (đối với viêm gan cấp, thể tối cấp), sơ can, kiện tỳ, hòa vị, tiêu thực (đối với thể không vàng da, thời kỳ hồi phục), hoạt huyết, hóa ứ (đối với viêm gan mạn, xơ gan). Tùy theo tính chất bệnh mà dùng phép trị thích hợp.

VIÊM GAN CẤP

Thường gặp 3 thể:

1.Thấp nhiệt: Da mắt vàng tươi, bứt rứt khó chịu, người nóng, bực tức, chán ăn miệng đắng khô, bụng đầy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, ngứa hoặc không, tiểu ít vàng như nước vối, táo bón, rìa lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt, Sác hoặc Nhu Sác.

Pháp: Thanh lợi thấp nhiệt.

Dùng bài Nhân Trần Cao Thang gia giảm:

Nhân trần 40 Chi tử 12 Sinh đại hoàng 8
Bồ công anh 10 Thổ phục 10

Trường hợp thấp năïng thêm Hậu phác, Thương truật, Trạch tả. Nhiệt thịnh thêm Hoàng bá, Thạch cao.

  1. Nhiệt độc (Thể nặng và rất nặng):

Triệu chứng: khát, bứt rứt, vàng da nặng lên rất nhanh, ngực bụng đầy tức, táo bón, tiểu vàng đỏ, nặng thì hôn mê, nói sảng, co giật, tiêu tiểu có máu, lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng nhớt, khô, mạch Hoạt Sác.

Pháp: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, cứu âm

Tê giác 30 Sinh địa 20 Xích thược 12
Đan bì 12 Chi tử 12 Nhân trần 16 Bản lam căn 40
Thạch hộc 12

Nếu sốt cao mê man: thêm An Cung Ngưu Hoàng hoặc Chí Bảo Đơn để thanh tâm, khai khiếu.

  1. Can Vị Bất Hòa (thể viêm gan không vàng da, thời kỳ hồi phục): mạn sườn đau tức, bụng trên đầy hơi, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, miệng đắng, chán ăn, chất lưỡi đỏ nhợt, mạch Huyền.

Pháp: Sơ Can, hòa Vị. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm: Sài hồ, Bạch thược, Hương phụ đều 12g, Chỉ xác, Trần bì, Xuyên khung, Chích thảo đều 6g.

Có triệu chứng thấp nhiệt thêm Hoàng bá, Nhân trần. Ngực đau nhiều thêm Uất kim. Nôn, buồn nôn thêm Gừng tươi, Bán hạ, Trúc nhự. Trường hợp có triệu chứng Tỳ hư, dùng bài Tiêu Dao Tán gia giảm.

VIÊM GAN MẠN TÍNH

Thường gặp 2 thể:

  1. Can tỳ bất hòa: bệnh nhân không sốt, da không vàng hoặc vàng nhẹ, gan còn sờ được dưới bờ sườn, mạn sườn đầy tức hoặc ấn đau, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, rêu lưỡi dày nhớt, mạch Huyền Hoạt.

Pháp: Sơ Can, kiện Tỳ.

Bài thuốc: Tiêu Dao Tán gia giảm:

Đương qui 12 Sài hồ 12 Bạch truật 12
Bạch linh 12 Hà thủ ô 12 Uất kim 12 Bạch thược 20
Đan sâm 8 Trần bì 8 Hậu phác 8 Cam thảo 4
Sinh khương

Bệnh nhân mệt mỏi nhiều thêm Nhân sâm 8g (hoặc Đảng sâm 12g), huyết kém hay chóng mặt, mắt mờ thêm Tang thầm, Kỷ tử. Sắc da còn vàng thêm Nhân trần, Chi tử.

  1. Khí huyết ứ trệ: Sắc mặt kém tươi nhuận, môi thâm tím, gan to, ấn đau, mạn sườn đau tức, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, rêu vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Khẩn.

Pháp: Hoạt huyết, hóa ứ.

Bài thuốc: Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm

Đương qui 12 Sinh địa 12 Ngưu tất 12
Sài hồ 12 Uất kim 12 Bạch truật 12 Bạch thược 10
Xích thược 10 Xuyên khung 8 Đào nhân 8 Hồng hoa 6
Trần bì 8 Hậu phác 8

Gan to cứng thêm Miết giáp, Mẫu lệ; Bụng đầy hơi thêm Mộc hương, Sa nhân; Vùng gan đau nhiều thêm Nhũ hương, Một dược. Trường hợp khí hư thêm Nhân sâm (hoặc Đảng sâm), Hoàng kỳ.

  1. Can âm bị thương tổn

Đầu choáng, hồi hộp, ít ngủ, haymê, bàn tay bàn chân nóng, khát nước, miệng khô, họng khô, hay tức giận, chất lươi đỏ , Táo , nước tiểu vàng, mạch huyền tế sác

Pháp: Bổ can âm(tư dưỡng can âm, tư âm dưỡng can)

 Viêm gan  can âm hư Sa sâm 15 Thục địa 12 Mạch môn 12
Thiên môn 8 Kỉ tử 12 Huyết dụ 16 Hoài sơn 16
ý dĩ 16 Hà thủ ô 12 Sinh địa 12 Trinh nữ tử 12
Bạch thược 12 Táo nhân 12 Địa cốt bì

 

Bệnh viêm gan siêu vi tuy trên lâm sàng thường gặp các thể trên đây nhưng thường lẫn lộn vì vậy cần chú ý khi biện chứng luận trị.

Những Điều Cần Chú Ý Trong Điều Trị Bệnh Viêm Gan Siêu Vi

Bệnh nhân cần có chế độ sinh hoạt điều độ, nghỉ ngơi đầy đủ, không lao động trí óc hoặc chân tay quá sức gây mệt mỏi. Về chế độ ăn, cần dùng các thức ăn dễ tiêu như rau đậu, trái cây, sữa, cá, thịt nạc, cũng không nên ăn nhiều vì thịt là loại thức ăn khó tiêu đối với người đau gan, rất hạn chế ăn các chất dầu mỡ. Không ăn các chất cay nóng như ớt, tiêu, rượu, thuốc lá… Lúc chức năng gan kém cần thận trọng lúc dùng thuốc trụ sinh hoặc các loại thuốc cổ truyền có độc như Phụ tử, Ô đầu, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật…

 

 

Xoa bóp bấm huyệt bàn chân chữa bệnh gan

Bấm huyệt bàn chân chữa bệnh gan
Bấm huyệt bàn chân chữa bệnh gan

Đông y cho rằng tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người đều có những vùng đại diện ở bàn chân. Bàn chân trái tương ứng với nửa người bên trái (mắt trái, thận trái, tim, lách, hậu môn, trĩ, …) bàn chân phải tương ứng với nửa người bên phải (mắt phải, gan thận, mật, ruột thừa). Bàn chân là điểm tận cùng của hệ thống thần kinh và là điểm thấp nhất của các đường ống thần kinh. Chính vì thế bấm các huyệt ở bàn chân sẽ có tác dụng điều trị bệnh khá hiệu quả. Đối với bệnh gan thì bấm huyệt ở bàn chân cũng có hiệu quả khá cao. Theo kinh nghiệm của các kĩ thuật viên ở phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn thì đối với một số bệnh nhân gặp vấn đề về gan sau khi được điều trị bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt ở gan bàn chân phải thì đều có kết quả tốt.

Khi lá gan bị yếu, chúng ta thấy mệt mỏi cùng cảm giác hụt hẫng ở trong người. Lúc này lá gan đang phải cố sức loại bỏ các chất độc mà cơ thể đã nhiễm phải. Trong giai đoạn này, phân thường có màu đen, xanh hay vàng và có thể có lẫn chất nhầy. Nếu gan bị sưng tấy thì vùng phản ứng với gan cũng rộng hơn. Bấm  vào đâu cũng thấy đau. Lúc này nếu xoa bóp bấm huyệt thì cần phải bấm nhẹ nhàng lúc đầu, sau đó mới tăng lực bấm lên mạnh hơn. Thời gian mỗi lần chỉ cần 1-2 phút.

Theo lời anh T một người có hơn 10 năm kinh nghiệm châm cứu bấm huyệt cho biết: Bệnh nhân của anh tuổi cũng ngoại ngũ tuần. Ông thường xuyên bị mệt mỏi, không ngủ được, không muốn làm bất cứ việc gì, ăn uống kém. Đi lại nhẹ nhàng trong nhà cũng cảm thấy mệt. Ông có đến xoa bóp bấm huyệt tại phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn. Khi tôi bấm vào điểm gan ở bàn chân phải của ông, ông tỏ rõ sự đau đớn. Tôi nhận thấy ở điểm này cứng hơn ở những điểm khác, không mềm như ở những điêm khác. Tôi tập trung xoa bóp và bấm ở điểm này. Sau ngày thứ 2, bệnh của ông đã có tiến triển rõ rệt. Tôi hiểu cơ thể ông đã có phản hồi tốt đối việc xoa bấm ở bàn chân. Liên tiếp trong 5 ngày liền tôi tập trung xoa bóp và bấm ở điểm này nhiều hơn các điểm khác. 5 ngày trôi qua, bệnh nhân đã có tiến triển rõ rệt. Ngủ ngon hơn, không phải dùng thuốc ngủ hỗ trợ như trước nữa. Ông đã ăn uống tốt, và không cảm thấy thở dốc và mệt mỏi khi đi lại như trước nữa. Tôi hiểu, như vậy là trong người ông đang có phản ứng phối hợp với việc xoa bấm, cố gắng loại bỏ các chất độc hại ra khỏi cơ thể.

Theo thaythuoccuaban.com

Chữa ung thư gan bằng cà gai leo?

Cà gai leo chữa ung thư gan
Cà gai leo chữa ung thư gan

Cà gai leo còn có tên gọi khác như: cà vạnh, cà cườm, cà quánh, cà quýnh, cà gai dây, cà lù. Tên khoa học Solanum hainanense hoặc Solanum procumbens Lour., thuộc họ Cà (Solanaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta như các tỉnh miền Bắc cho tới Huế; Lào, Campuchia.

Cà gai leo là cây nhỏ, sống nhiều năm, dài khoảng 1m, phân cành nhiều, cành non tỏa rộng, phủ lông hình sao và rất nhiều gai cong màu vàng. Lá mọc so le hình bầu dục hay thuôn, phiến lá nông, không đều, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới nhạt, phủ đầy lông tơ màu trắng, hai mặt đều có gai ở gân chính, nhất là mặt trên, cuống lá cũng có gai. Hoa màu trắng mọc thành xim. Quả mọng, hình cầu nhẵn, có cuống dài, màu vàng, khi chín có màu đỏ, hạt màu vàng.

Bộ phận dùng là rễ (thích gia căn), dây (thích gia đằng). Rễ, cành lá và cả quả, thu hái quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô. Có khi dùng tươi.

Thành phần hóa học chính như rễ có alcaloid, tinh bột, flavonoid. Dây có alcaloid.

Cây được dùng trị phong thấp, sâu răng, đau nhức các đầu gân xương, cảm cúm, ho, ho gà, dị ứng. Còn dùng trị rắn độc cắn, giải độc rượu, bia, chống say tàu xe. Hiện nay cà gai leo đã được nghiên cứu và chứng minh có tác dụng điều trị viêm gan do virút, xơ gan và hỗ trợ trị ung thư gan. Ngày dùng 16 – 20g dưới dạng thuốc sắc.

Vài công trình nghiên cứu về cà gai leo     

Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu công dụng của cây cà gai leo như đề tài cấp nhà nước:“Nghiên cứu thuốc từ cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan”. Thử trên tác dụng trên lâm sàng trên 60 bệnh nhân viêm gan B mãn hoạt động kết quả điều trị ở nhóm dùng cà gai leo đạt mức rất tốt và tốt 66,7%, ngược lại ở nhóm chứng (placebo) chỉ ở mức trung bình và kém 93,3%, thuốc không gây tác dụng ngoài ý muốn. Từ những kết quả nghiên cứu vừa nêu có thể kết luận cà gai leo làm thuốc chữa viêm gan đặc biệt là viêm gan B mãn tính thể hoạt động mà vẫn còn là nỗi lo lắng của ngành Y tế của nhiều nước. Interferon được coi là thuốc quan trọng nhất để chữa bệnh này thì quá đắt và có nhiều tác dụng phụ.

Hay đề tài:“Nghiên cứu điều trị hỗ trợ bệnh nhân viêm gan virút B mãn tính thể hoạt động bằng thuốc từ cà gai leo”(lâm sàng giai đoạn 3) được thực hiện thử lâm sàng trên 90 bệnh nhân viêm gan B mãn tính thể hoạt động trong 2 tháng so sánh với 90 bệnh nhân nhóm đối chứng, tại 3 bệnh viện 103, 354 và 108, rút ra các kết luận sau:

– Thuốc có tác dụng giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng (mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, nước tiểu vàng, da niêm mạc vàng,…); Transaminase và bilirubin về bình thường nhanh hơn so với nhóm chứng.

– Tại Viện 103, 7 bệnh nhân được điều trị kéo dài 6 tháng kết quả có 1 bệnh nhân mất HBsAg và xuất hiện Anti HBs.

Thuốc không gây một tác dụng ngoài ý muốn nào trên lâm sàng và xét nghiệm.

Còn đề tài:“Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với TNT và tác dụng bảo vệ gan của cà gai leo trên thực nghiệm”năm 1997 đi đến kết luận: “Dịch chiết cây cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan chuột dưới ảnh hưởng độc của TNT với các khả năng: hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc; ngăn chặn thoái hóa mỡ và hiện tượng chảy máu vi thể trong nhu mô gan; làm giảm sự hủy hoại tế bào và tan rã nhu mô gan, do đó bảo tồn được cấu trúc nan hoa của tiểu thùy gan”.

Với đề tài:“Nghiên cứu cây cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan”năm 2002 đã thử tác dụng của dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid cà gai leo trên mô hình chống viêm mạn, trên colagenase, mô hình xơ gan thực nghiệm, tác dụng chống oxy hóa. Kết quả cho thấy:

– Dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid cà gai leo làm giảm trọng lượng u trên mô hình u hạt thực nghiệm theo thứ tự 42,2% và 35,2%.

– Cả hai chế phẩm trên đều có tác dụng trên men colagenase. Dạng chiết toàn phần làm giảm hàm lượng colagen gan trên mô hình gây xơ gan là 27,0% còn dạng glycoalcaloid là 27,6%.

– Hoạt chất chống oxy hóa (HTCO) in vivo là 47,5% .

– Kết quả trên đã chứng minh glycoalcaloid là hoạt chất chính có tác dụng ức chế sự phát triển xơ gan, chống viêm, bảo vệ gan trong cao toàn phần của cà gai leo.

– Đã nghiên cứu phát hiện những tác dụng dược lý mới của cà gai leo như tác dụng trên hệ miễn dịch, trên tế bào ung thư, cũng như thử tác dụng trên gen gây ung thư của virút và gen ức chế ung thư p53 và Rb.

– Đã xác định độc tính cấp và độc tính bán trường diễn, độc tính trường diến của cà gai leo.

Những bài thuốc dùng cà gai leo

Như vậy, qua những kết quả nghiên cứu trên đã đã chứng minh cho việc sử dụng cà gai leo để giải độc gan và chống viêm mạnh của người dân, điều này cũng cho thấy cây thuốc Nam của chúng ta có tác dụng mạnh và sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân nếu được quan tâm đúng mức.

Đông y cũng cho rằng cà gai leo có vị hơi the, tính ấm, hơi có độc, có tác dụng tán phong thấp, đau lưng, nhức xương, tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu, trị rắn cắn, viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ.

Dưới đây xin nêu những cách trị liệu truyền thống theo kinh nghiệm của dân gian từ cây cà gai leo

Chữa viêm gan, xơ gan, hỗ trợ chống tế bào gây ung thư: cà gai leo (thân, rễ, lá) 30g, cây dừa cạn 10g, cây chó đẻ răng cưa (diệp hạ châu) 10g. Tất cả sao vàng, sắc uống hằng ngày một thang.

Chữa tê thấp, đau lưng, nhức mỏi: cà gai leo 10g, dây gấm 10g, thổ phục linh 10g, kê huyết đằng 10g, lá lốt 10g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang. Liên tục từ 10 – 30 thang.

Chữa chứng ho gà, suyễn: cà gai leo 10g, thiên môn 10g, mạch môn 10g. Sắc ngày 1 thang chia 3.

Bài thuốc dùng trị cảm cúm, bệnh dị ứng, ho gà, đau lưng, đau nhức xương, thấp khớp, rắn cắn: liều dùng 16 – 20g rễ hoặc thân lá cà gai leo sắc uống hàng ngày.

Làm giải rượu: theo kinh nghiệm dân gian, cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt. 100g cà gai leo khô sắc với 400ml nước còn 150ml, uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Hoặc 50g cà gai leo khô hãm với nước sôi, cho người say rượu uống thay nước. Dùng đến khi tỉnh rượu. Các bài thuốc trên sẽ nhanh chóng giúp tỉnh rượu, bảo vệ tốt tế bào của gan. Theo kinh nghiệm dân gian tác dụng bảo vệ tế bào gan mạnh đến nỗi khi uống rượu chỉ cần chà răng hoặc nhấm rễ cà gai leo thì sẽ tránh được say, nếu bị say thì uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh chóng tỉnh rượu.

Chữa ho do viêm họng: rễhoặc thân và lácà gai leo 15g, lá chanh 30g, sắc uống làm 2 lần trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm. Dùng trong 5 – 7 ngày.

Hỗ trợ điều trị các bệnh về gan (viêm gan B, xơ gan…): 35g rễ hoặc thân lá cà gai leo, sắc với 1 lít nước, còn 300ml chia uống 3 lần trong ngày, giúp hạ men gan, và giải độc gan rất tốt.

Trong nhiều kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại, cho đến nay vẫn chưa có bất cứ một kết quả nghiên cứu khoa học chính thống chứng minh rằng cây cà gai chữa trị được bệnh ung thư gan mà thực tế chỉ có tác dụng tốt trong việc điều trị các bệnh về gan. Đối với các bệnh lý khác, việc sử dụng cây cà gai leo để chữa trị là do kinh nghiệm dân gian, chứ chưa có nghiên cứu khoa học nào khẳng định. Còn thông tin về tác dụng chữa ung thư của cây cà gai leo có thể xuất phát từ một hội nhóm, hoặc kết quả nghiên cứu của một tổ chức y tế không chính thống nào đó. Tuy nhiên, những thông tin này cũng cần được nghiên cứu, thẩm định và được công bố của các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Mọi người dân cần thận trọng, đừng nghe theo tin của một số người đồn thổi là cà gai leo chữa được ung thư như ở Quảng Nam.

 BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Bài thuốc chữa viêm gan hiệu quả từ mật ong

Mật ong chữa bệnh gan hiệu quả
Mật ong chữa bệnh gan hiệu quả

Mật ong còn gọi là phong mật, vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ trung, nhuận phế trừ ho, nhuận tràng thông tiện, chỉ thống giải độc, được dùng để bổ dưỡng và chữa các chứng bệnh như ho, táo bón, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm loét miệng, bỏng, ngộ độc ô đầu… Ngoài ra, mật ong còn là thành phần tá dược của nhiều loại thuốc viên, thuốc tễ, thuốc ho, rượu thuốc của dược học cổ truyền.

Một số đơn thuốc thường dùng

– Ho do phế táo: Mật ong 15g hoà với một lượng dầu vừng thích hợp uống hàng ngày.

– Táo bón, ho khan không có đờm: Mật ong lượng vừa đủ uống với nước sôi mỗi ngày 2 lần sáng, chiều. Hoặc mật ong 15ml trộn với vừng đen giã nát 1 thìa uống với nước ấm, mỗi ngày 1 lần.

– Tăng huyết áp: Vừng đen 50g rang thơm, giã nhỏ, hoà với 50g mật ong và chừng 200ml nước, chia uống 2 lần trong ngày.

– Viêm loét dạ dày – tá tràng: Mật ong 100ml chưng cách thuỷ uống trước khi ăn, mỗi ngày 3 lần, dùng liên tục 2 – 3 tuần. Hoặc mật ong 10g, cam thảo sống 10g, trần bì 6g, nước 400ml, sắc cam thảo và trần bì với nước lấy 200ml rồi hoà mật ong chia uống 2 – 3 lần trong ngày.

– Viêm loét lưỡi miệng: Mật ong 1 thìa, đại thanh diệp 15g, sắc lấy nước ngậm.

– Thiếu máu: Mật ong 80g chia uống 3 lần trong ngày.

– Nhọt độc, ung thũng: Dùng mật ong trộn với hành củ giã nát đắp lên tổn thương.

– Ngộ độc ô đầu: Mật ong uống nhiều lần, mỗi lần 1 – 4 thìa với nước ấm.

– Viêm gan: Mật ong và sữa ong chúa lượng bằng nhau, uống mỗi ngày 20g, 20 ngày là 1 liệu trình, dùng liên tục 3 liệu trình.

– Bỏng: Dùng mật ong bôi sẽ mau khỏi, mau lên da non.

– Trẻ mới sinh không bú: Mật ong 1 thìa, mỡ lợn 1 thìa, cam thảo tán bột 2 đồng cân, cùng đun lên rồi cho trẻ uống từ từ.

– Trẻ em bị tưa lưỡi: Dùng gạc sạch thấm mật ong, quấn vào ngón tay, thoa đi thoa lại miệng lưỡi nhiều lần.

 Trong dân gian mật ong còn được ngâm với trứng gà sống: 500ml mật ong ngâm với 15 – 20 quả trứng đã được dùi một lỗ nhỏ ở phía đầu trong hũ kín rồi đem chôn dưới đất 4 – 5 ngày, sau đó lấy lên mỗi sáng ăn 2 quả và uống một ít mật thì sức khoẻ sẽ được cải thiện tốt.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Đông y chữa men gan cao hiệu quả

Men gan cao
Men gan cao

Men gan nằm trong tế bào gan, tham gia vào quá trình chuyển hóa quan trọng đối với cơ thể, có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mỗi người. Men gan cao có thể được phát hiện thông qua xét nghiệm máu. Trong hầu hết các trường hợp, nồng độ men gan chỉ tăng nhẹ tạm thời, nhưng nếu chế độ ăn uống nghỉ ngơi không hợp lý có thể khiến bệnh trở nên nặng hơn. Men gan bình thường là men gan có các chỉ số xét nghiệm đạt:

–        AST: 20 – 40 UI/L

–        ALT: 20 – 40 UI/L

–        GGT: 20 – 40UI/L

–        Phosphatase kiềm: 30 – 110 UI/L.

Nếu chỉ số xét nghiệm men gan cao hơn từ khoảng 5 lần chỉ số bình thường thì được xếp vào mức độ nặng. Theo Lương y Nguyễn Hữu Toàn men gan tăng cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, nếu không được điều trị có thể dẫn tới xơ gan.

Đông y điều trị men gan cao như thế nào?

Anh Nguyễn Phú Đuân, sinh năm 1964, ở Đắc Lắc. Dạo trước anh Đuân thấy trong người có biểu hiện khác lạ, da vàng, người mệt mỏi, sút cân nhiều, anh đi khám phát hiện có virut viêm gan B cấp, chỉ số men gan cao gấp 30 lần so với mức cho phép. Sau thời gian điều trị men gan cao, kết hợp virut viêm gan B ở phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn ở Hải Phòng thì bệnh của anh đã khỏi hoàn toàn. Anh Đuân được chỉ định dùng bài thuốc sắc, kết hợp với Hồng chi fusi (được chiết xuất từ sợi thể của nấm linh chi đặc biệt ) ngày uống 4 gói, uống liên tục trong vòng 20 ngày, ngày uống 1 thang. Kết hợp sử dụng thuốc sắc và hồng chi trong điều trị men gan cao có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng nhằm chống lại các nguy cơ gây nhiễm bệnh, tăng sức khỏe cho những tế bào gan khỏe mạnh, giúp phục hồi những tế bào gan bị nhiễm bệnh. Kết quả: sau 20 ngày uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, anh Đuân cảm thấy người khỏe hơn, và nghĩ bệnh đã có sự tiến triển nên tiếp tục uống thêm 20 thang nữa. Sau 2 đợt thuốc điều trị, anh Đuân đi kiểm tra men gan đã bình thường, anh Đuân tiếp tục điều trị bằng thuốc đông y thêm một thời gian nữa, kết quả virut viêm gan B đã ngừng hoạt động.

Theo lời khuyên của Lương y Nguyễn Hữu Toàn, những người có men gan tăng cao không nên quá lo lắng, có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn. Nhưng cũng không nên quá chủ quan, cần được điều trị theo chỉ định của thầy thuốc để men gan trở lại mức bình thường. Trong và sau thời gian điều trị nên chú ý nghỉ ngơi, ăn uống điều độ, nên ăn những thực phẩm dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng, không nên ăn mỡ động vật, các món ăn được chiên, rán xào gây ra mỡ gan và mỡ trong máu, khiến tình trạng men gan cao trầm trọng hơn.. Dinh dưỡng hợp lý giúp tế bào gan phục hồi.

Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn

Thuốc chữa bệnh gan.

Cũng giống như các cơ quan nội tạng khác thì vai trò của lá gan là rất quan trọng với sự sống của mỗi con người. Gan đóng vai trò sống còn trong việc điều hòa các diễn tiến của sự sống của bạn. Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chức năng thiết yếu cho cuộc sống. Một người thiếu gan thì không thể sống được. Cũng chính bởi gan thực hiện nhiều công việc đóng vai trò quan trọng trong sự sống của mỗi người nên gan cũng dễ bị nhiễm bệnh hơn so với một số bộ phận khác trên cơ thể. Kết quả điều tra cho thấy: có trên 400 triệu người trên thế giới mắc bệnh viêm gan B mãn tính trong đó có tới 280 triệu người là người thuộc vùng Châu Á. Bệnh viêm gan B gây ra 60%-80% các trường hợp ung thư gan trên toàn thế giới. Bệnh viêm gan B dễ lây hơn HIV (siêu vi gây bệnh AIDS) từ 50 tới 100 lần. Còn ở Việt Nam có khoảng 20% dân số có các bệnh liên quan tới gan như các bệnh viêm gan, xơ gan, viêm gan virus và đặc biệt là ung thư gan – một trong những nguyên nhân gây ra tử vong cao nhất ở Việt Nam. Continue reading “Thuốc chữa bệnh gan.”

Áp-xe gan do Amíp

Áp xe gan do virut
Áp xe gan do virut

Đây là bệnh nhiễm khuẩn gan mật thường gặp ở Việt Nam. Bệnh do khối mủ nằm khu trú trong nhu mô gan. Áp-xe gan có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên: do vi khuẩn, do ký sinh trùng đường ruột gồm amip và sán lá gan lớn, trong đó nguyên nhân do amip là chủ yếu. Continue reading “Áp-xe gan do Amíp”

Xơ gan, chữa xơ gan bằng đông y

Xơ gan thường tiếp theo sau một viêm gan mạn tính. Rất khó xác định được lúc nào viêm gan mạn đã chuyển sang xơ gan nếu không quản lý bệnh nhân, theo dõi định kỳ và nhất là soi ổ bụng hoặc sinh thiết.

Cổ trướng thường được coi là một biểu hiện mất bù của xơ gan, tiến triển dần dần. Khi to nhiều, bệnh nhân mới để ý đến. Nước cổ trướng màu vàng chanh, còn nước màu hồng hay đỏ là có ý nghĩa xấu: xơ gan đã ung thư hóa, hoặc có áp lực tĩnh mạch cửa tăng nhiều, lách to, cứng chắc, có khi đến tận rốn. Continue reading “Xơ gan, chữa xơ gan bằng đông y”

Giải đáp bệnh viêm gan

  Thưa bác sĩ Widjaja Luman, tiêm phòng virus viêm gan B vào độ tuổi nào là phù hợp nhất? Thể trạng của người bị viêm gan B cấp là thế nào? Nếu đã bị bệnh viêm gan B rồi, có cách điều trị tận gốc không?(Thanh Đức, 28 tuổi, Phú Mỹ,)

 Bác sỹ Widjaja Luman: Tốt nhất là ngay khi sinh ra, trẻ nên được tiêm phòng virus viêm gan B. Tuy nhiên, đối với người lớn, những người chưa tiêm phòng và những người không có kháng nguyên có thể tiêm phòng ở bất cứ độ tuổi nào.

 Biểu hiện của bệnh viêm gan B cấp là mệt mỏi, buồn nôn, hoặc toàn thân bị vàng da. 95% người lớn mang virus viêm gan B không cần điều trị và có thể tự lành bệnh, tuy nhiên, tỉ lệ này chỉ có ở người lớn. Nếu trẻ em nhiễm virus từ mẹ, thì mang virus cả đời.  

Continue reading “Giải đáp bệnh viêm gan”