Các bệnh về gan gia tăng

Các bệnh về gan gia tăng
Các bệnh về gan gia tăng

Ở nước ta, trong những năm gần gây, nhiều căn bệnh liên quan đến gan  có chiều hướng gia tăng, rất đa dạng và phức tạp, nó gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tính mạng con người. Vì vậy, đòi hỏi cần có chương trình phòng, chống phù hợp và hiệu quả hơn.

Bệnh viêm gan do vi-rút, đang là vấn đề rất được quan tâm trên toàn thế giới. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cho thấy có tám loại vi-rút gây viêm gan, trong số đó vi-rút viêm gan B (HBV) và vi-rút viêm gan C (HCV) là vi-rút gây bệnh phổ biến và nguy hiểm nhất. Theo thống kê, trên thế giới có hơn 500 triệu người đang nhiễm HBV, HCV mạn tính. Nhiễm HBV, HCV có thể gây nên các thể bệnh khác nhau, từ người mang vi-rút mạn tính không triệu chứng đến viêm gan cấp tính tự hồi phục, viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan. Theo TS Ðinh Quý Lan, Phó chủ tịch Hội gan mật Việt Nam, ước tính số người nhiễm HBV ở nước ta dao động từ 15 đến 20% số dân. Như vậy, cả nước có từ 12 đến 16 triệu người bị lây nhiễm vi-rút viêm gan B, trong đó có khoảng bốn đến năm triệu người bị viêm gan. Hậu quả của viêm gan B rất nghiêm trọng nó dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Căn bệnh này đang là nguyên nhân gây tử vong cho hàng chục nghìn người mỗi năm. Thuốc điều trị kháng vi-rút hiện có bảy loại, nhưng tất cả phải nhập ngoại, giá thành cao, thời gian điều trị kéo dài, hiệu quả không cao, khi ngừng thuốc, bệnh có thể tái phát.

Nhiều thống kê cho thấy người lạm dụng rượu ở khu vực đô thị là từ 5 đến 10% số dân, đã gây ra nhiều hậu quả đối với bản thân người nghiện và phần nào làm ảnh hưởng đến xã hội ở nước ta. Tình trạng lạm dụng rượu kéo dài (nghiện) đã dẫn đến tổn thương gan do uống nhiều rượu như: gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan cũng đang ngày một nhiều. Tác động sâu của rượu làm chuyển hóa tại gan, tăng nhu cầu sử dụng ô-xy, tế bào vùng ba bị hoại tử, mỡ trong gan tăng, tổ chức xơ phát triển. Các tế bào hoại tử là yếu tố chính hình thành chất tạo keo sinh xơ. Xơ gan là hậu quả của nhiều bệnh gan mạn tính bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tổn thương cuối cùng là các tổ chức xơ và các nốt tái tạo làm đảo lộn cấu trúc gan. Xơ gan giai đoạn cuối với các triệu chứng cổ trướng, nôn ra máu, hôn mê gan và tử vong. Bệnh xơ gan được cho là khá phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới. Ước tính có khoảng 5% số dân nước ta bị xơ gan và những người bị  xơ gan do lạm dụng rượu lên tới 65%. Tất cả các căn nguyên trên đều dẫn đến tình trạng xơ gan giai đoạn cuối, với các biến chứng nặng: nôn ra máu, suy hô hấp, hôn mê gan và cuối cùng là tử vong.

Căn bệnh ung thư gan nguyên phát cũng cần được quan tâm, hầu hết những trường hợp này là loại ung thư biểu mô tế bào gan (chiếm tới 90%) còn lại 10% là do ung thư biểu mô đường mật trong gan và một số ung thư ít gặp. Trên thế giới mỗi năm có khoảng một triệu người tử vong và một triệu người mắc mới căn bệnh này. Còn trong nước, nó là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ ba (sau ung thư phổi, dạ dày) đối với nam giới và thứ sáu đối với phụ nữ. Ung thư gan thường có tiên lượng xấu, thường phát hiện muộn, nên thường tử vong vào tháng thứ sáu kể từ khi phát hiện. Một số trường hợp phát hiện sớm được phẫu thuật, điều trị nên thời gian sống kéo dài được lâu hơn, nhưng đấy chỉ là con số ít, còn lại phần nhiều chết do ung thư tái phát, di căn, phát triển khối u mới…

Cùng với những tiến bộ của y học thế giới trong chẩn đoán, giải mã và điều trị căn bệnh nguy hiểm này,  ngành y tế nước ta  đã có những bước tiến dài cả nội và ngoại khoa trong việc đối phó với các bệnh liên quan đến gan. Theo TS Ðặng Thị Kim Oanh, Ðại học Y Hà Nội, để giảm các gánh nặng về sức khỏe liên quan đến những hậu quả nặng nề của viêm gan B, người thầy thuốc cần có  phác đồ điều trị cho từng người bệnh để phát huy hiệu quả của thuốc, thời hạn dùng thuốc, điều kiện dùng thuốc, khả năng dung nạp thuốc và chi phí điều trị. Kết quả nghiên cứu quản lý đề kháng trong điều trị bệnh viêm gan vi-rút mạn của  TS Trần Xuân Chương, Trường đại học Y Dược Huế, cho thấy, việc lựa chọn điều trị dựa vào tiền sử người bệnh là rất quan trọng để giảm đề kháng. Trên cơ sở đó, xác định loại thuốc tối ưu, xác định chiến lược điều trị tốt nhất, từ đơn trị liệu đến thời gian điều trị. 

Tuy vậy, để thay đổi tiên lượng các bệnh về gan, nhất là ung thư cần được chẩn đoán sớm (ở nước ta phần lớn các ca phẫu thuật ung thư gan đều có khối u và lớn hơn ba cm). Các thầy thuốc cho rằng, cần phát triển siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, PET/CT cũng như các kỹ thuật Elissa, RIA, PCR… để giúp lâm sàng chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh. Trong điều trị ung thư gan, cắt gan là phương pháp hàng đầu ở nước ta. Mới đây nhất, Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức đã thực hiện thành công ca ghép gan đầu tiên từ người cho chết não. Tuy vậy, hiện nay phương pháp này vẫn còn khó khăn, nhất là về chi phí thực hiện quá cao và nguồn gan để ghép vẫn hạn chế.

Kết quả nghiên cứu của TS Trần Ngọc Ánh, Phó Chủ nhiệm Khoa nội – Bệnh viện Ðại học Y Hà Nội cho thấy, có từ 90 đến 95% người mẹ bị nhiễm vi-rút viêm gan B lây truyền sang con. Nếu không được theo dõi và điều trị đúng thì sau 10 đến 15 năm những người bị nhiễm vi-rút viêm gan B sẽ chuyển thành viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan. Mà muốn phòng ngừa lây bệnh từ mẹ sang con, người mẹ cần được điều trị bệnh ổn định trước khi mang thai, trẻ em cần được tiêm phòng vắc-xin viêm gan B và huyết thanh viêm gan B ngay sau khi sinh.

Ðể phòng, chống hiệu quả các bệnh về gan, các bác sĩ khuyến cáo người dân chủ động triển khai tiêm phòng vắc-xin viêm gan B, đây là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng viêm gan, xơ gan và ung thư gan. Ngoài ra cũng cần hạn chế lạm dụng rượu, bia. Trong mười năm tới cần phát triển các trung tâm ghép tạng, phấn đấu có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu ghép gan của người bệnh. Kết hợp đông-tây y trong việc nghiên cứu các bài thuốc có giá trị kháng vi-rút, kháng tế bào ung thư, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.਍

(Theo nhandan.org)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *